Handai

大阪大学

Nhật có 7 trường quốc lập nổi tiếng thường được gọi là (旧)帝国大学 bởi các trường này thành lập dưới chế độ quân chủ trước thế chiến thứ Ⅱ. 7 trường đó là: 東京大学 (Todai)、京都大学 (Kyodai)、東北大学 (Tohokudai)、九州大学 (Kyudai)、北海道大学 (Hokudai)、大阪大学 (Handai) và 名古屋大学 (Meidai). Handai được thành lập năm 1931, chỉ sớm hơn Meidai. Hiện nay Handai có 10 学部, 12 研究科, 5 研究所, 18 付属研究施設. Theo một số thống kê thì Handai có 理学部 dẫn đầu Nhật với rất nhiều cống hiến. Còn theo một số bảng xếp hạng không chính thức thì Handai hiện chỉ đứng sau Todai và Kyodai, cùng hạng với 一ツ橋 và 東工大.

Dưới đây là link dẫn đến homepage của 大阪大学、工学部 và 基礎工学部.

by Nguyễn Đình Phúc K96

A. Giới thiệu về trường

Trường Đại học Osaka là 1 trong 7 trường lâu đời nhất tại Nhật Bản. Thành lập năm 1931 là trường lâu đời đứng hàng thứ 6 trong các 帝国大学 theo như lời giới thiệu của thầy hiệu trưởng 岸本志三: "Đào tạo những học sinh có đầy tính sáng tạo, hướng đến phát triển gắn liền với địa phương"

Khoa Xây Dựng của Đại học Osaka tuy không thuộc hàng nổi tiếng nhất tại Nhật Bản nhưng không phải là kém. Với trang thiết bị thí nghiệm nghiên cứu cộng với đội ngũ các giáo sư nổi tiếng … tui nghĩ có thể kỳ vọng vào kết quả đào tạo của trường Đại học Osaka này.

B. Đề thi các năm qua

Các bạn có thể tham khảo chi tiết đề thi năm 1999 tại đây.

C. 感想

Đề thi năm nay có thể nói khác hoàn toàn với xu hướng cho đề các năm qua (xu hướng trước đây vốn gần giống xu hướng của trường 京都大, cụ thể là:
Toán: Matrix, Vi phân, Tích phân, Xác suất, …

Hóa: Hóa Lý, Hóa hữu cơ (chương trình Đại học), hóa vô cơ, …

Vật lý: Lực học(1), Điện từ(1) và 1 hoặc 2 bài trong các chưng Quang học,Xung động, Sóng, Nhiệt học, Nguyên tử.

Năm nay Vật Lý, Hóa, đại đa phần Toán và Anh văn lấy từ chưng trình phổ thông nên nếu năm tới vẫn là xu hướng này thì tôi nghĩ chỉ cần học chắc chưng trình phổ thông là đủ. Trong kỳ thi qua một thằng bạn du học sinh người Bangladesh đã bỏ công học hóa đại học (phản ứng Fielde-graff, định luật Markonikov …) mà quên đi hóa phổ thông, nó đã rất bất mãn với đề thi vừa qua. Riêng các bạn tôi mong rằng các bạn sẽ đủ sức làm tốt bất cứ loại bài nào có thể cho ra thi.

D. Sách tham khảo

Tôi học chủ yếuđể thi vào 京都大 nên học theo các sách mà các 先輩 thi vào 京都 đã hướng dẫn. Bạn có thể xem bài viết về 京都大 để được rõ hn. Tôi chỉ tóm tắt gọn lại như sau:

I. Toán:
明解シリーズ2 明解演習 微分積分 小寺平治著 共立出版社
高専数学問題集 2 & 3 森北出版社
モノグラフ21 確率 村上哲哉著 矢野健太郎監修 科学振興社

II. Hóa:
化学IB・II重要問題集 数研出版社
有機電子論上・下 井本稔著 東京科学同人
有機科学の問題と解法 平田義正 後藤俊夫 著
詳解物理科学演習 小野宗三郎 共立出版社

III. Vật lý:
物理IB・IIB重要問題集 数研出版社
物理学演習上・下 後藤憲一 山本邦夫 共立出版社

IV. Anh văn: 適当でした.

E. Lời khuyên

Chỉ để chuẩn bị cho Đại học Osaka, các bạn nên học như sau:

Toán
Học toàn bộ các sách đã nêu. Quyển đầu tiên giúp bạn ôn lại kiến thức phổ thông và mở rộng đến phạm vi đại học. Hai quyển thứ 2 là bộ bài tập dành riêng cho Kosen, có khá đầy đủ các bài thi Hennyu đã qua của các trường đại học, bạn nên giải toàn bộ các bài có đánh dấu trong bộ này. Quyển thứ 3 luyện riêng về xác xuất, nếu bạn có ý định thi vào Đại học Osaka hoặc Kyoto bạn không thể không học qua quyển này.

Hóa
Không cần thiết phải học hết nhưng ít ra bạn phải học cho thật vững tài liệu xếp đầu tiên nó giúp bạn ôn lại kiến thức cấp 3. Quyển thứ 2 là lý thuyết điện tử hóa hữu cơ, tưng đối khó nhưng nó giúp bạn khá hữu hiệu trong việc lý giải & đoán các phản ứng hóa hữu cơ. Quyển thứ 3 là bộ bài tập hóa hữu c khá hay mà tôi tìm thấy trong thư viện. Quyển thứ 4 chuyên về Hóa Lý.

Vật lý
Làm thật kỹ quyển sách đầu tiên để ôn lại kiến thức cấp 3, sau đó học các dạng bài khó và đặc trưng trong quyển thứ 2 (tưng đối khó). Học tập trung vào chương lực học và chương điện từ. Sau đó là chương Nhiệt học, Sóng, Quang …
Để chuẩn bị thi Đại học các bạn phải chuẩn bị từ rất sớm, một quá trình dài nửa năm hoặc hn căng thẳng như thế chẳng tránh khỏi nhiều lúc bực bội muốn vất tập vất vở, lại có lúc tự hỏi mình học mấy cái quái này liệu có ích gì sau này không .v.v… Tôi xin nêu ra vài điểm tổng kết kinh nghiệm cá nhân cũng như của các anh chị đi trước cho cho các bạn tham khảo:

Nên bắt đầu học càng sớm càng tốt, trễ nhất là đầu năm 5. Tôi bắt đầu học từ hè năm 4, tuy nhiện tôi thực sự học hết mình là từ đợt nghỉ xuân trước khi vào năm 5. Oải quả rồi thì cứ vứt tập vứt vở đi chi cho thỏa, sảng khoái rồi hãy ngồi vào học.
Nên kiếm bạn học chung, nếu cùng thi vào 1 trường càng tốt. Trong thời đại Internet này tôi nghĩ cái này không khó thực hiện.
Hãy nghĩ rằng học thi này là chuyện đưng nhiên phải làm.
Cứ thoải mái tuyên bố với mọi người trường mình nhắm thi vào. Nhờ áp lực từ mọi người đó mà bạn sẽ chăm học hơn một xíu

by Nguyễn Đức Kính K98

A. Abstract

Tôi có ý đinh thi Handai sau khi đọc bài hướng dẫn của anh Nguyễn Đình Phúc hồi tháng 11 năm 1999. Lúc đó thực ra cũng chẳng nghĩ được lí do gì chính đáng để thi cả, chỉ biết rằng Handai là một trong những trường nổi tiếng nhất của Nhật. Sau này có nhiều lần ghé thăm homepage của trường mới biết thêm được một số thông tin khác. Đã có lúc tôi định không thi Handai nữa vì …run. Tháng 7 năm 2001, tôi quyết định thi Handai sau khi đã đặt nguyện vọng 1 vào Tohoku. Level của Handai là ở trên Tohoku, tôi thi Handai với mục đích chính là để lấy kinh nghiệm thi Tohoku. Sau này tôi có tham khảo ý kiến của các sempai đã thi Handai và biết rằng mình quyết định không sai.

B. Handai là trường duy nhất có 基礎工学部 tồn tại song song cùng 工学部

Đại bản doanh của 工学部 đặt tại Suita Campus. Năm 1996, 工学部 kỉ niệm 100 năm ngày thành lập. Mới nghe thấy có vẻ mâu thuẫn bởi lịch sử của Handai mới chỉ có 70 năm. (2001年現在). Cứ từ từ, bạn sẽ hiểu ngay bây giờ thôi.
Năm 1896: 官立大阪工業学校 được thành lập, đây chính là tổ tiên của 大阪大学工学部
Năm 1901: Đổi tên thành 大阪高等工業学校
Năm 1929: Đổi tên thành 大阪工業大学. Các bạn đừng nhầm với trường tư lập 大阪工業大学 hiện nay.
Năm 1933: Sáp nhập với Handai và trở thành 工学部 của Handai.

Như vậy, sau 医学部 và 理学部 thì 工学部 có lịch sử lâu đời thứ 3 trong 7 学部 hiện nay của Handai. Những đặc trưng và lịch sử chi tiết của 工学部 có thể được tham khảo thêm tại homepage của 工学部 . Sau đây là bảng liệt kê các khoa của 工学部.

学科 学科目
応用自然科学科 応用化学
応用生物工学
精密科学
応用物理学
応用理工学科 機械工学
マテリアル応用工学
マテリアル科学
生産科学
電子情報エネルギー工学科 電気工学
通信工学
電子工学
情報システム工学
原子力工学
地球総合工学科 船舶海洋工学
土木工学
建築工学
環境工学

Đại bản doanh của 基礎工学部 đặt tại Toyonaka Campus. 基礎工学部 được thành lập năm 1961. Thú thực là tôi không hiểu rõ lắm về việc tồn tại cùng lúc 工学部 và 基礎工学部. Sau đây là bảng liệt kê các khoa của 基礎工学部.

学科 学科目
電子物理科学科 エレクトロニクスコース
物性物理科学コース
化学応用科学科 合成化学コース
化学工学コース
システム科学科 機械科学コース
電子システム学コース
生物工学コース
情報科学科 計算機科学コース
ソフトウェア科学コース
数理科学コース

C. Chọn ngành

Ở kosen tôi học 電子制御. Khi đăng kí thi Handai tôi chọn 工学部, 電子情報エネルギー工学科, 電子工学. Tôi chọn 工学部 bởi 2 lí do: 1/ Tôi không thích chữ 基礎 trong 基礎工学部, 2/ Trường tôi có 2 cậu người Nhật thi 基礎工学部 và tôi muốn thi 工学部 một mình. Tôi không thể đưa ra lời khuyên cụ thể nào cho các bạn về việc chọn 学部 cũng như chọn ngành cả mà chỉ nêu nên một số thông tin như sau:

Nếu thi 工学部
  • Lượng người dự thi sẽ ít và đương nhiên, số người đậu cũng sẽ rất ít, trung bình mỗi 学科 lấy một người.
  • Bạn sẽ thi Toán, Lí, Hoá, Ngoại ngữ (tiếng Anh và ngoại ngữ 2 thi chung. Ngoại ngữ 2 có thể chọn tiếng Pháp hoặc tiếng Đức, tôi chọn tiếng Đức) - không phải thi chuyên môn.
  • Bạn sẽ phải thi 2 vòng cách nhau tới 3 tuần. Chỉ những người được thông báo đỗ vòng 1 mới có quyền dự thi vòng 2. Điểm này giống Todai.
  • Lịch sử từ trước đến giờ: chưa có trường hợp nào thi đậu vòng 1 mà lại trượt vòng 2! Điểm này khác Todai rất nhiều.
  • Nếu đỗ và nhập học, bạn sẽ học tại Suita campus, nơi có rất ít việc làm thêm và sinh viên nữ.(Theo lời của sempai Nguyễn Quốc Thái) Cái thứ hai làm nhiều bạn nam thất vọng.
Nếu thi 基礎工学部
  • Lượng người dự thi đông hơn 工学部 nhiều, số người đỗ cũng nhiều. Tỉ lệ chọi có lẽ thấp hơn 工学部.
  • Bạn sẽ thi Toán, Lí, tiếng Anh và chuyên môn - không phải thi tiếng Đức (Từ năm heisei 11 trở đi.)
  • Bạn sẽ biết kết quả thi ngay ngày phỏng vấn. Ví dụ nếu hôm qua bạn thi viết, sáng nay bạn thi phỏng vấn thì 5 giờ chiều nay đã có kết quả cuối cùng dán tại bảng tin.
  • Nếu đỗ và nhập học, bạn sẽ học tại Toyonaka campus, nơi có nhiều việc làm thêm và có rất nhiều sinh viên nữ thuộc các nhóm ngành khoa học xã hội và nhân văn của Handai. (Cũng theo lời của sempai Nguyễn Quốc Thái.)

D. Kì thi năm 2001

工学部
  • Ngày 3 tháng 7: Hạn cuối nộp hồ sơ. Cần 意見書 của thầy hiệu trưởng trường Kosen. Chú ý là 意見書 này khác với 推薦書 trong trường hợp nhận 推薦. Thêm vào đó họ đòi hỏi cả thông tin mình đứng thứ mấy trong lớp. Các bạn biết rằng là trong bảng thành tích của lưu học sinh không có mục xếp thứ mấy. Trường hợp của tôi thì thầy chủ nhiệm tự ý viết thêm mục đó để vừa ý các thầy Handai.
  • Ngày 27 tháng 7: Thi vòng 1. Toán 120 phút, 4 bài. Lí 90 phút 5 bài. Hoá 90 phút 6 bài. Ngoại ngữ 90 phút: tiếng Anh 4 bài, tiếng Đức 3 bài. Các bạn xem thêm đề thi năm nay tại trang 過去問. Toán tôi làm được khoảng 80%, Lí: 90%, Hoá: 50%, tiếng Anh: 90%, tiếng Đức 95%.
  • Ngày 3 tháng 8: Có kết quả vòng 1. Có 8 người đậu: Trừ khoa 建築 ra thì chính xác mỗi khoa 1 người. Trong 8 người thì có tôi và một cậu Bangladesh là lưu học sinh. Cậu Bangladesh này thì đã đậu học bổng Monbusho vào khoa 電気 rồi.
  • Ngày 17 tháng 8: Thi vòng 2 (phỏng vấn). Vì biết rằng thi vòng 2 chỉ mang tính hình thức cho nên tôi cũng không hồi hộp lắm. Nhưng nói thật là tôi ngạc nhiên khi thấy có tới 12 thầy phỏng vấn. Nội dung phỏng vấn thì không có gì đặc biệt cả. Đến câu: "Ngoài Handai ra anh đã thi trường nào chưa?" Tôi nói tôi đã đậu Chiba và không quên thêm ngay một câu là "Tất nhiên nếu đậu Handai thì tôi sẽ chọn Handai". Tôi không đả động gì đến chuyện tôi sẽ thi Tohoku cả. Về chuyện này thì trước khi đi phỏng vấn tôi cũng đã hỏi ý kiến anh Nguyễn Đình Phúc, anh Lương Đình Hùng và thầy chủ nhiệm khoa tôi. Tôi quyết định là: "Nếu không hỏi thì không trả lời". Ở trên họ hỏi tôi đã thi vào trường nào chưa chứ không hỏi tôi sẽ thi trường nào. Mình có nói dối ai đâu.
  • Ngày 7 tháng 9: Có kết quả cuối cùng. Cả 8 người đỗ vòng 1 đều qua vòng 2. Càng khẳng định rằng: "Cứ đậu vòng 1 là đậu vòng 2"
基礎工学部
  • Hạn chót nộp hồ sơ: Ngày 3 tháng 7 năm 2001.
  • Ngày 2 tháng 8: Thi viết: Toán, Lí, Anh, Chuyên môn.
  • Ngày 3 tháng 8 buổi sáng: phỏng vấn.
  • Ngày 3 tháng 8 buổi chiều: có kết quả. 2 cậu người Nhật trường tôi thi 機械 đều đậu. Lưu học sinh thì có 1 cậu người Indonesia đậu.

E. Conclusion

がんばってください!

by Nguyễn Viết Nguyên K99

基礎工学部電子物理科学科エレクトロニクスコース

Chào bạn, tôi chỉ kể lại những gì mà tôi đã trải qua đối với chính mình, bạn hãy đọc và có thể rút ra được điều gì đó không ?

Tôi chọn thi Handai với mục đích chuyển sang học về điện tử, vì hiện tại tôi đang học chuyên nghành về hoá học. Và thêm một điều, học ở đây thì phải lấy đơn vị ít hơn các trường khác như tôi biết được qua homepage. Ngoài thi Handai tôi chọn thi Chiba, chủ yếu là để lấy kinh nghiệm chuẩn bị thi Handai cho tốt. Và quả thực điều đó rất có ích cho tôi.

Hennyu vào Handai có hai dạng, Kogakubu và Kiso kogakubu. Kisokogakubu thi 1-2/8 và biết kết quả ngay vào chiều ngày 2/8. Thi và học tại Toyonaka campus. Giao thông đi lại, nói chung là tiện hơn so với Kogakubu. Môn thi, sáng thi Anh, Vật Lý, chiều thi Toán và Senmon. Đề thi các năm trước các bạn có thể tham khảo tại đây. Chỉ có điều thi senmon thì sẽ tuỳ theo nghành bạn đăng ký. Mọi thông tin chi tiết đều có trong homepage của Handai.

Về nội dung các môn thi, theo những năm gần đây thì tiếng Anh có 4 câu, chủ yếu hỏi về ngữ pháp và các tổ hợp từ. Ngoài ra có một câu dịch Nhật – Anh, nếu hiểu hết được tiếng Nhật thì bạn sẽ có ưu thế hơn so với sinh viên Nhật. Nói chung, tiếng Anh thì đối với lưu học sinh chắc sẽ chẳng có vấn đề gì cả. Về Vật lý, theo truyền thống sẽ có 3 câu. Câu 1 về cơ thường dễ chơi được, câu 2 về điện, đối với những người học về điện thì chắc OK cả, tôi xác định bỏ câu này vì tôi ôn được rất ít, nhưng năm vừa rồi, đề ra không khó lắm nên cũng xài được. Câu 3 thì là nhiệt hoặc quang. Năm nay ra nhiệt rồi, thì năm sau ra quang. Về Toán thì có 3 câu và có câu cuối cùng về xác suất tương đối khó, khó là bởi vì nó chẳng nằm trong một dạng nhất định nào cả. Vì không chuẩn bị nhiều cho xác suất lắm, nên tôi cũng xác định sẽ chỉ làm tốt 2 câu trên, còn thời gian thì làm câu 3. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ đầu bài một chút, và không phức tạp hoá quá lên thì lấy điểm câu 3 không phải là chuyện khó. Về thi senmon thì tôi thi hoá, (đây là chuyên nghành của tôi lúc học ở Kosen) và không có gì là trở ngại nhiều lắm.

Về thi phỏng vấn, thì phân theo course, giáo viên phỏng vấn ít nhất là 8 người. Câu hỏi cũng chỉ xoay quanh mục đích thi vào, sokken, bài thi hôm qua thế nào. Nếu như bạn đã chuẩn bị thi cho Monbusho rồi thì cứ theo đó mà làm. Chỉ có điều giữ thái độ cho tốt, cả trong phong cách ra vào, tư thế ngồi, thái độ trả lời, cho dù bạn không có ý định học ở đây.

Nói tóm lại, thi Handai chắc sẽ không khó lắm nếu bạn chuẩn bị một cách “hơi” chu đáo. Vì là Kiso nên các kiến thức, các câu hỏi đều mang tính Kiso cả. Ngay cả các câu hỏi của bên Kogakubu cũng vậy. Các sách tôi học cũng chỉ xoay quanh các sách ở trường Kosen, và các đề thi năm trước. Vì tôi nghĩ chẳng phải học đâu xa xôi làm gì hết, cứ “giã” kakkomon cho tốt là ra ngay những gì họ muốn hỏi thôi mà. Vấn đề còn lại là sự cố gắng của bạn mà thôi.

Kết quả Handai có ngay sau khi thi, vì thế bạn vẫn còn kịp nộp hồ sơ thi Tokodai (7/8) và vẫn có chọn một tháng hè để nghỉ ngơi.

Chúc bạn thành công.

Tham khảo

1. Kết quả thi Hennyu các năm trước.

2. Kakomon của VCSJ

3. Cách lấy kakomon

4. Hồ sơ thi năm Heisei 15

5. Homepage của Kisokogakubu

6. Hướng dẫn của Senpai các năm trước

7. Đề thi handai Kiso Heisei15.doc

Những điều cần hỏi khác.

NgVietNguyen[at]yahoo.com

by Nguyễn Tuấn Dương K04

大阪大学・工学部

電子情報工学科・情報通信科目ガイド

I. Hướng dẫn chung

1.Giới thiệu

Trường Handai là 1 trong 7 trường 旧帝大, xếp thứ 2 vùng Kansai. Theo bảng xếp hạng khối 工学部 các trường 国立大学 do trường Kosen tôi đang học tổng hợp và phân phát cho sinh viên năm 4 chuẩn bị thi 編入 thì trường Handai xếp đầu tiên trong nhóm B. Do trường Kosen tôi đang học ở vùng Kansai nên ngoài các trường nổi tiếng chủ yếu chỉ xếp hạng các trường vùng Kansai và các vùng lân cận. Cụ thể bảng xếp hạng như sau:

Group Danh sách các trường
Group A 東大、京大、東工大
Group B 大阪大、名古屋大、東北大、九州大、北海道大、筑波大
Group C 神戸大、京都工繊大、広島、埼玉、千葉、横浜国大、金沢、新潟
Group D 信州、岐阜、静岡、徳島、福井、高知、鳥取、島根

Như các bạn đã biết trường Handai tồn tại song song cả 工学部基礎工学部, theo lời thầy giáo tốt nghiệp Handai trong khoa tôi đang học thì 基礎工学部 ở giữa 理学部 và 工学部. Tùy theo từng giai đoạn, từng Lab mà những vấn đề nghiên cứu của 基礎工学部 gần với 理学部 hay 工学部. Tôi chọn 工学部 vì theo lời sempai 2 bên thì 工学部 được 認定 nhiều 単位 hơn học nhẹ nhàng hơn, 基礎工学部 khá vất vả không loại trừ khả năng học 3 năm. Hơn nữa cho đến năm 19, bên 工学部 trường Handai chỉ thi các môn cơ bản, có thể coi là một lợi thế cho sinh viên Việt Nam. Tuy nhiên theo 1 thầy giáo khác trong khoa tôi đang học, đối với riêng ngành 情報 thì level của 基礎工学部 là khá hơn, bên 基礎工学部 cũng học sâu và chuyên về 情報 hơn. Nếu các bạn có ý định thi Handai nên hỏi thêm trực tiếp các sempai đang học ở Handai. Kể từ đây, tôi mặc định Handai là trường Handai 工学部.

Khoảng năm 4 tôi đã xác định sẽ thi Tokodai là nguyện vọng 1, và vì môn thi của Handai giống với Tokodai nên tôi quyết định thi thêm Handai. Trước lúc thi thì đỗ được trường nào là hay trường đấy nhưng thực ra tôi còn xác định thi Tokodai làm nguyện vọng 1 trong trường hợp được tiếp học bổng, thi Handai làm nguyện vọng 1 trong trường hợp không được tiếp học bổng. Trường Handai có 留学生会館, tiền nhà rẻ bất ngờ nên nếu không được học bổng vào đây cũng đỡ :d. Tuy nhiên sau này dự định của tôi bị phá sản vì kết quả học bổng có quá muộn.

Các bạn chú ý trường Handai muốn đủ tư cách dự thi thì phải có giấy 推薦 của thầy hiệu trưởng trường Kosen. Có trường Kosen cho đây giống như thi 推薦 nên nếu đỗ thì bắt buộc phải nhập học. Ngoài ra vì có giấy 推薦 này mà tôi không phải gửi bưu điện, tất cả đều do trường gửi cho. Hơn nữa không phải đóng 3 man lệ phí thi nên tôi 薦め trường này cho các bạn kohai đang học các trường Kosen vùng Kansai và các vùng lân cận.

2.Chuẩn bị

Đầu tháng 4 trường Handai có thông báo thay đổi môn thi, các khoa thi chung Toán, tiếng Anh và thi riêng các môn chuyên môn. Có lẽ do năm nay thi sớm ( đầu tháng 8 ) nên ngay giữa tháng 5 trường Handai phát hành 募集要項. Các bạn có thể hỏi xin ở 学生課 trường Kosen nhưng tôi vẫn 請求 trực tiếp, ngoài 募集要項, 願書…dù không 請求 nhưng trường Handai vẫn gửi riêng giới thiệu về trường đại học do chính trường Handai phát hành. Các bạn chú ý thời gian phát hành 募集要項 các năm có thể khác nhau, tôi muốn thi Handai nên từ đầu tháng 5 cứ khoảng 1 tuần lại vào phần 入試情報 để xem lại, tôi 請求 2 bộ ( 2部 ) 募集要項 phòng trường hợp viết sai, thiếu giấy tờ cần thiết… Chú ý cuối cùng là các trường đại học đều cần 調査書 của trường Kosen, trường tôi thời gian từ lúc 請求 đến lúc nhận được là 2 tuần nên phải chuẩn bị sớm cho kịp thời gian nộp 願書.

3.Lịch thi

Ngày / tháng Thời gian Môn thi Điểm tối đa
7/8 09:30 ~ 10:30 Tiếng Anh 150
" 10:45 ~ 12:45 Toán 200
" 14:00 ~ 15:30 Chuyên môn 200
8/8 09:30 ~ Phỏng vấn 100

Ngoài những môn thi trường Handai còn xét 調査書, điểm tối đa phần này là 200 điểm.

4.Kết quả

Kết quả thi có ngày 15/8, chỉ dán ở bảng thông báo của trường mà không xem được trên mạng. Tôi nhờ sempai xem cho nên biết kết quả ngay chiều 15/8.

Năm nay trường Handai không bắt buộc thi Lý, Hóa mà thay bằng Chuyên môn và có thêm phần đánh giá 調査書, cụ thể các bạn có thể đọc thông báo tại đây. Có lẽ vì thế số lượng người thi tăng lên gấp đôi (132 người nộp hồ sơ), một số bỏ thi, riêng khoa 電子情報工学科・情報通信科目 có 19 người nộp hồ sơ nhưng chỉ có 12 người đi thi, 2 người đỗ đều là sinh viên trường 舞鶴工業高等専門学校・電気工学科.

II. Thi viết

Trường Handai trừ môn tiếng Anh, các môn khác 問題用紙 và 回答用紙 chung một tờ giấy, không được mang đề về. Các bạn có thể tham khảo đề Handai năm 19 và đề các năm trước nữa tại đây.
Ở trường Kosen tôi đang học có 1 phòng gọi là 進路相談室 có đề kakomon rất nhiều trường, hình như trường Handai chỉ gửi kakomon theo yêu cầu của các trường Kosen, tôi copy kakomon ở phòng này. Dưới đây là tôi viết những gì tôi còn nhớ về kỳ thi năm 20.

1. Tiếng Anh (gồm 5 bài)

Thể loại tương tự như kakomon mấy năm gần đây, nhiều từ tiếng Anh chuyên môn.

  • Bài 1 đọc hiểu liên quan đến đánh bắt cá, từ vựng cũng không quá khó.
  • Bài 2 là bài dịch Anh Nhật, có vài từ tiếng Anh tôi không biết nghĩa tiếng Nhật nên dịch không được tốt.
  • Bài 3 là bài dịch Nhật Anh, có 1 câu tiếng Nhật tôi hiểu sai nghĩa, ngoài ra có mấy mẫu câu rất đặc biệt nên bài này tôi không làm được mấy.
  • Bài 4 là bài điền từ, bài này tôi làm được.
  • Bài 5 là bài về sửa sai ngữ pháp, mấy mẫu câu khá cơ bản nhưng không hiểu sao tôi làm không được.

Đánh giá chung tiếng Anh tôi làm rất kém được khoảng 40%.

2. Toán (gồm 4 bài)

  • Bài 1 về 線形代数

Bài này cho một ma trận đối xứng, tính giá trị riêng, vecto riêng, chéo hóa… Có một câu chứng minh các vecto riêng ứng với các trị riêng khác nhau thì vuông góc với nhau là đáng chú ý nhất. Câu này 2 bạn người Nhật cùng lớp với tôi ở Kosen đều không làm được.

  • Bài 2 về 積分

Tính một tích phân bất định rất dễ, ý tiếp theo ứng dụng ý đầu chia khoảng để xét dấu hàm sin, cos tính tích phân của hàm số có trị tuyệt đối.

  • Bài 3 về 数列

Gần giống với kakomon các năm trước, khá dễ.

  • Bài 4 về ベクトル解析

Rất dễ, trình độ cấp 3.

Tôi làm cả đề mất khoảng 30 - 35 phút. Phải trình bày cả cách giải, mỗi bài giải trên 1 tờ giấy có cho viết mặt sau nên ngoài bài 1 về 線形代数, các bài khác tôi đều viết thêm cách giải thứ 2. Tôi tự đánh giá làm được 100%.

3. Chuyên môn

Trong 募集要項 cũng có viết, bạn có thể chọn 2 trong 4 môn 物理 ( 力学、熱力学、波動 )、電気磁気学、電気電子回路、コンピュータ工学 ( ハードウェアおよびプログランミング ). Tôi thấy đề Vật lý hàng năm của Handai không khó lắm và tôi cũng khá tự tin môn 電磁気 nên tôi chọn 2 môn 物理 và 電気磁気学.
Đề Vật lý có 2 bài, 1 bài cơ 1 bài Nhiệt, khá cơ bản.

  • Bài cơ có 2 ý, ý 1 chỉ cần xét quan hệ tích phân của gia tốc, vận tốc, quãng đường. Cho đồ thị vận tốc, yêu cầu tính những cái còn lại. Ý 2 là một bài về chuyển động khá dễ.
  • Bài nhiệt là về vận tốc trung bình của nguyên tử, quan hệ giữa nội năng và nhiệt độ. Để đưa ra kết quả cuối cùng đề thi có hướng dẫn quá trình tính toán, yêu cầu là điền vào các ô trống kết quả từng bước tính toán đó, khá dễ.

Đề 電気磁気学 gồm 2 bài, 1 bài về 静電気, 1 bài về 磁気.

  • Bài về 静電気 có 1 quả cầu nằm bên trong 1 quả cầu rỗng. Tích điện, nối đất… quả cầu bên trong, quả cầu rỗng yêu cầu tính cường độ điện trường và điện thế, khá cơ bản.
  • Bài về 磁気, hỏi y nguyên định lý Bio - Savart nhưng yêu cầu biểu diễn bằng vector trong không gian 3 chiều, các tích có hướng, vô hướng trong không gian 3 chiều. Bài này khá giống Tóan.

Tôi nghĩ chuyên môn tôi làm được khoảng 90 - 100%.

Sau khi xong Handai tôi rất lo lắng vì đề Toán và Chuyên môn rất dễ còn đề tiếng Anh lại là lợi thế cho người Nhật. Tuy nhiên theo kết quả thì không phải ai cũng làm được. Bạn cùng lớp với tôi ở Kosen làm được 80 - 90% Toán, 70% tiếng Anh, 50 - 60% Chuyên môn cũng đỗ.

III. Phỏng vấn

Có tất cả 2 giám khảo, thời gian phỏng vấn khoảng 10 -15 phút, không khí khá thoải mái. Sau đây là nội dung phỏng vấn của tôi.

  • 志望動機
  • 試験の出来
  • 大学に入ったら、何を研究したい
  • 他大学の受験状況
  • 受かったら来るか、大学院へ進学するか
  • 奨学金

Ngoài ra lúc trả lời 志望動機 tôi có nói đến tình trạng các mạng di động ở Việt Nam nên chuyển hướng câu chuyện về Việt Nam một chút. Sau khi trả lời phần 試験の出来, 1 giám khảo có nói 「数学興味深いですか」 tôi trả lời khá thoải mái, nói chuyện về tình hình học Toán ở các trường ở Việt Nam. Sau đó giám khảo khác hỏi 「英語が難しかったですか」 tôi trả lời vòng vo ý chính là hiểu tiếng Anh nhưng không dịch được tiếng Nhật, nên câu chuyện chuyển sang hướng học tiếng Nhật trước khi vào Kosen, hỏi sang cả xem tivi có hiểu không. Tôi nói phần tin tức thì nói chung là hiểu nhưng những 笑い番組 thì không hiểu mấy. Có 1 giám khảo nói 「笑い番組が要らない」 không khí trở nên rất thoải mái, nói chuyện vui vẻ, thoải mái. Lúc hỏi đến 他大学の受験状況, rút kinh nghiệm thi Meikodai tôi chỉ nói thi Dentsu và Handai, câu này tôi đã hỏi kỹ mấy thầy trong khoa ở Kosen trả lời thế nào là tốt nhất.

Thi phỏng vấn ở Handai khá thoải mái, vui vẻ, tôi là người cuối cùng nên thời gian có vẻ dài hơn bình thường. Trong 募集要項 viết phỏng vấn 100 điểm ( trong khi tiếng Anh có 150 điểm ) nhưng tôi thấy như là 雑談.

IV. Kế hoạch ôn thi

Giữa năm 4 sau khi biết điểm thi TOEIC rất thấp tôi bắt đầu bắt tay vào học tiếng Anh. Các môn Toán Lý và Chuyên môn thì chỉ thực sự bắt đầu học từ nghỉ xuân năm 4. Vào đầu năm 5 tôi bắt đầu xem kakomon để biết phần nào hay ra, tập trung học thêm. Cụ thể đối với riêng trường Handai như sau:

1. Toán

Hai phần vi tích phân và đại số tuyến tính đã học ở Việt Nam, ngoài ra năm 4 ở trường Kosen cũng có 2 môn này nên tôi chỉ xem lại vào khoảng nghỉ xuân năm 4. Phần dãy số khá dễ và những câu hỏi khác cũng không qúa khó, tôi nghĩ sinh viên người Việt ai cũng sẽ làm tốt môn Toán. Trước khi đi thi tôi làm đề kakomon 5 năm trước từ năm 15 đến 19.

2. Tiếng Anh

Tiếng Anh tôi kém nhất nên tôi khá lo lắng môn này. Từ kỳ 2 năm 4, sau khi tham khảo ý kiến của sempai Hải K00, Bảo K01 và xem 1 số hướng dẫn khác trên mạng tôi mua sách và ôn thi theo những quyển sau:

  • 速読英単語 「必修編」 風早寛著 (Z会) ( bắt đầu học từ kỳ 2 năm 4 )
  • 速読英単語 「上級編」 風早寛著 (Z会) ( bắt đầu từ nghỉ xuân năm 4)
  • ディースコースマーカー英文読解 成田あゆみ/日比野著 (Z会) ( bắt đầu học khoảng tháng 5 năm 5)
  • 速読英熟語 温井史朗著 (Z会) ( 阪大対策 bắt đầu học từ khoảng tháng 5 năm 5)
  • 英作文のトレーニング 「実戦編」 石神勉著 (Z会) ( bắt đầu học từ sau khi thi Dentsu, đầu tháng 7)

Hai cuốn đầu là học từ vựng, mỗi ngày học một chút. Cuốn thứ 3 rèn luyện kỹ năng đọc. Cuốn thứ 4 tôi học cho riêng trường Handai, đối phó với những bài điền từ, sửa lỗi sai. Trước khi học cuốn 英作文 tôi chủ yếu học từ vựng Anh Nhật, đầu tháng 7 mới bắt đầu dịch câu Anh Nhật Nhật Anh là quá muộn. Nên bắt đầu sớm hơn, theo tôi nên bắt đầu từ đầu năm 5. Trước khi đi thi tôi làm kakomon 4 năm từ 16 đến 19 rồi nhờ thầy giáo ở trường Kosen chấm giúp, cũng chỉ đạt khoảng 50 - 60%.

3. Chuyên môn

Ở Kosen tôi học khoa Điện nên môn 電気磁気学 là cơ bản tôi chỉ xem lại sách vở học ở Kosen. Môn Vật lý thì vào nghỉ xuân năm 4 tôi xem lại sách Vật lý trên trường tiếng Nhật và bộ sách của thầy Đặng Quang Khang ( Đại học Bách Khoa Hà Nội ). Khoảng tháng 5 năm 5 tôi có đọc cuốn 「物理のエッセンス」 để ôn tập lại toàn bộ kiến thức cơ bản, sau đó thì làm kakomon từ năm 15 đến năm 19.

4. Phỏng vấn

Tôi vào homepage của khoa 電子情報工学科・情報通信科目 xem qua nội dung chính và một vài 研究室 phòng trường hợp bị hỏi. Trước khi đi thi Meikodai tôi đã nhờ các thầy trong khoa phỏng vấn rồi, lại có kinh nghiệm thi Meikodai, Dentsu nên trước khi đi thi Handai tôi chỉ chuẩn bị câu hỏi, câu trả lời và nhờ mấy bạn cùng lớp ở Kosen sửa tiếng Nhật, phỏng vấn giúp..

V. Một số trang web tham khảo

1. Lều chõng VCSJ
2. 大阪大学高専会
3. 理工系三年次編入を目指す人のための掲示板
4. 大学編入過去問題

Ngoài phần Lều chõng trong VCSJ tôi thường tham khảo trong 大阪大学高専会, trang này cũng là một kiểu như Lều chõng do những người đã thi đỗ 編入 vào Handai lập ra, có rất nhiều thông tin bổ ích. Ngoài ra lúc rảnh rỗi tôi cũng vào 理工系三年次編入を目指す人のための掲示板 để tìm hiểu thêm thông tin từ những người cũng chuẩn bị thi Handai.

VI. Bên lề

Nhà sempai Thắng chỉ cách trường khoảng 10 phút đi bộ nên trước hôm thi tôi ngủ rất kỹ. Đến lúc thi Handai chắc có lẽ các bạn đã có kinh nghiệm thi 1, 2 trường rồi nhưng tôi vẫn muốn nhắc các bạn chú ý nên nghỉ ngơi hợp lý trước lúc thi. Năm 4 khi đến thăm Open Campus trường Handai tôi có vào ăn trưa ở căn tin trong trường nhưng do ngại giờ nghỉ trưa đông người có thể muộn giờ thi nên tôi vẫn mua đồ ăn trưa từ buổi sáng. Các bạn nếu có thời gian, sau khi phỏng vấn ngày thứ 2 có thể "khám phá" thêm trường Handai.

Nhân đây tôi xin cảm ơn anh Thắng K03 đã cho chúng tôi tá túc trong những ngày thi và thông báo kết quả sớm cho chúng tôi. Cảm ơn các sempai đã giúp đỡ và cho tôi nhiều lời khuyên bổ ích. Cảm ơn các bạn K04 đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình ôn thi cũng như đi thi.

VII. Lời kết

Học không chơi đánh rơi tuổi trẻ, chơi không học đánh mất tương lai. 楽しみながら受験勉強を頑張ってください !
Nếu có thắc mắc gì các bạn có thể liên lạc với tôi qua địa chỉ email : s2kduong[at]yahoo.com.

Nguyễn Tuấn Dương 舞鶴工業高等専門学校・電気情報工学科

Unless otherwise stated, the content of this page is licensed under Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 License